Hotline: 0707873579

MÔ HÌNH NUÔI TÔM 3 GIAI ĐOẠN GIÚP ĐẠT ĐẦU CON, TĂNG NĂNG SUẤT

Ngày đăng: 11-04-2021 19:16:57

Trong những năm gần đây tình hình thời tiết diễn biến phức tạp ảnh hưởng trực tiếp nghề nuôi trồng thủy sản; đồng thời môi trường bị ô nhiễm, dịch bệnh luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát… Từ đó năng suất tôm nuôi có xu hướng giảm. Mặt khác, chi phí vật tư đầu vào (con giống, vật tư, thuốc thú y thủy sản, thức ăn...) vẫn luôn biến động, sản phẩm làm ra không ổn định về giá, đã tác động không nhỏ đến sản xuất,… Chính vì những lý do trên nên việc cải tiến quy trình kỹ thuật, thử nghiệm những mô hình mới nhằm góp phần tăng năng suất tôm nuôi, nâng cao thu nhập của người dân là vấn đề cần thiết hiện nay. Một trong số đó là “Mô hình nuôi tôm siêu thâm canh 03 giai đoạn” đã được một số đơn vị và hộ nuôi thực hiện trong thời gian qua mang lại hiệu quả rất cao và khá ổn định.

Khác với việc nuôi tôm chỉ có 1 giai đoạn (con giống thả thẳng xuống ao) hay 2 giai đoạn (con giống được ương một thời gian rồi chuyển qua ao nuôi đến khi thu hoạch), mô hình nuôi tôm 3 giai đoạn gồm: 1 giai đoạn vèo (20 ngày) và 2 giai đoạn nuôi thương phẩm (50 ngày/giai đoạn).

Hệ thống ao nuôi được thiết kế gồm 3 ao: 1 ao ương giai đoạn 1, 1 ao ương giai đoạn 2 và 1 ao nuôi giai đoạn 3. Ngoài ra, còn có 1 hệ thống xử lý nước đầu vào và 1 hệ thống xử lý chất thải, nước thải. Ao ương giai đoạn 1 là ao đất được lót bạt hay ao bạt nổi có khung sắt và được đặt trong nhà lưới hay có mái che để tránh nước mưa; ao nuôi giai đoạn 2 và ao nuôi thương phẩm giai đoạn 3 thường là ao đất được lót bạt.

Các giai đoạn nuôi

       - Giai đoạn 1: Tôm được ương trong ao có diện tích 200m2. Đây được xem là trung gian giữa điều kiện môi trường sống trong trại sản xuất giống và điều kiện môi trường bên ngoài. Với việc ương tôm trong ao có diện tích nhỏ này sẽ giúp hạn chế đáng kể những biến động về môi trường do thời tiết gây ra, thuận lợi cho việc chăm sóc và quản lý sức khỏe của tôm, từ đó sẽ giảm hao hụt đầu con, tỉ lệ sống cao, tôm dần dần làm quen với điều kiện thời tiết bên ngoài, nhờ đó tôm sẽ thích nghi tốt với môi trường ao nuôi ở các giai đoạn sau. Ao ương có diện tích nhỏ sẽ giảm được chi phí về điện, thức ăn, vi sinh, hóa chất, công lao động...

       - Giai đoạn 2:

       Tôm sau khi ương giai đoạn 1 trong thời gian từ 18 - 25 ngày sẽ được chuyển sang ao nuôi giai đoạn 2, với diện tích khoảng 800m2.

       Thời điểm này tôm vẫn còn khá nhỏ nên sức đề kháng không cao, nhạy cảm với môi trường nước, thời tiết và khả năng bắt mồi còn yếu, dễ hao hụt đầu con nếu đưa tôm ra ao nuôi có diện tích mặt nước quá lớn. Trong giai đoạn 2, tôm dễ thích nghi trong môi trường ao nuôi có diện tích lớn hơn không nhiều so với ao ương giai đoạn 1; người nuôi dễ dàng quản lý môi trường nước cũng như quản lý thức ăn và sức khỏe tôm để tăng tỷ lệ sống của tôm. Ngoài ra, tôm được sống trong môi trường nước mới “sạch” cùng với nguồn thức ăn đầy đủ, từ đó, kích thích sự tăng trưởng của tôm, tôm sẽ lớn nhanh hơn trong thời gian ngắn. Bên cạnh đó, giai đoạn này nuôi tôm ở ao nhỏ thì chi phí xử lý môi trường sẽ được giảm đi hoặc nếu có sự cố xảy ra, hộ nuôi cũng sẽ chủ động trong khâu xử lý.

       Mặt khác, một vấn đề lớn mà mô hình nuôi tôm 2 giai đoạn gặp phải là về áp lực môi trường, nhất là vấn đề nền đáy, chất thải và khí độc trong ao nuôi. Nếu chỉ nuôi tôm ở giai đoạn 2 đến khi thu hoạch thì thời gian kéo dài trên 60 ngày mà lượng nước sử dụng là ít thay nước, chỉ cấp nước bù, chính vì thế áp lực cho việc quản lý môi trường là rất cao, chất lượng nước ngày một xấu đi do các hoạt động của tôm nuôi (thường trên 60 ngày thì các khí độc ở đáy ao phát sinh lớn ảnh hưởng đến chất lượng nước, sức khỏe tôm nuôi).

       Còn đối với nuôi 3 giai đoạn thì thời gian nuôi giai đoạn 2 khoảng 30 ngày thì tôm được chuyển sang ao nuôi giai đoạn 3; thời gian lưu giữ nước không quá 30 ngày, khí độc phát sinh không lớn lắm và nếu quản lý tốt thì có thể nói nước nuôi tôm cho các giai đoạn được xem như nước mới. Chính vì thế, nuôi tôm 3 giai đoạn đã giải quyết được vấn đề giữ môi trường nước luôn tốt cho tôm nuôi.

       Hiện nay, trong nuôi tôm 2 giai đoạn, đến giai đoạn này thường đạt kích cỡ khoảng 80 - 120 con/kg thì người nuôi ở sẽ tiến hành thu tỉa, do áp lực về môi trường rất lớn, khí độc tăng cao khó kiểm soát, nhu cầu oxy, nhu cầu về điện.... Trong khi đó, với mô hình nuôi tôm 3 giai đoạn thì tôm được chuyển sang nuôi giai đoạn 3 nên rất phù hợp.

       - Giai đoạn 3:

       Sau 30 ngày nuôi ở giai đoạn 2, tôm được chuyển qua ao nuôi giai đoạn 3 (diện tích khoảng 1.500 m2). Với môi trường mới “sạch” và do diện tích ao nuôi khá lớn nên mật độ tôm nuôi thấp hơn (chỉ bằng một nửa so với giai đoạn 2, mật độ từ 180 - 250 con/m2). Từ đó, tôm sẽ dễ đạt được kích cỡ lớn trong thời gian ngắn hơn so với nuôi 2 giai đoạn.

       Ngoài ra, chất thải được xử lý một cách chặt chẽ và được sử dụng làm khí đốt Biogas sử dụng cho sinh hoạt, hạn chế tối đa tình trạng ô nhiễm môi trường.

Chuẩn bị ao nuôi

     1. Ao ương giống giai đoạn 1

     a. Hình dáng và diện tích: Ao có hình tròn hoặc hình chữ nhật được bo tròn các góc, được làm nổi trên mặt đất, ao được lót bạt HDPE toàn bộ, có mái che, diện tích 50 - 100 m2/ao. Rốn ở giữa ao để gom chất thải ra ao chứa bùn.

     b. Hệ thống sục khí: Mỗi ao lắp 01 máy sục khí oxy có công suất 3 kW/h với 10 - 20 cục sủi (bố trí khoảng 1 cục sủi/3 m2 ao ương) để phân bố oxy hòa tan đều khắp ao.

     2. Ao nuôi giai đoạn 2

     a. Hình dáng và diện tích ao nuôi: Ao nuôi nên có dạng hình tròn hoặc hình vuông được bo tròn các góc để tạo được dòng nước chảy tròn trong ao; diện tích ao nuôi 200 – 250 m2, có mái che.

     b. Kết cấu ao nuôi: Bờ ao phải cao hơn mức nước cao nhất trong ao từ 0,3 - 0,5 m. Hệ số mái bờ ao là 10 độ. Bờ ao đủ rộng (> 2m) để làm đường đi lại, lắp hệ thống điện, đặt động cơ của máy quạt nước. Bờ ao được gia cố bằng bê tông hoặc lót bạt HDPE (độ dày 0,76 – 1,00 mm). Ao nổi hoặc chìm, được lót bạt HDPE toàn bộ. Rốn ao được thiết kế ở giữa ao và có hệ thống ống dẫn xi phong chất thải ở giữa ao và dẫn ra ao chứa bùn.

     c. Hệ thống sục khí, quạt nước: Mỗi ao cần được bố trí 1 máy sục khí công suất 2,5 kW với khoảng 100 - 120 cục sủi rải đều khắp ao. Mỗi ao cần bố trí 1 quạt, có 8 - 12 cánh, công suất 2.5 kW.

    3. Ao nuôi giai đoạn 3

    a. Hình dáng và diện tích ao nuôi: Ao nuôi nên có dạng hình tròn hoặc hình vuông được bo tròn các góc để tạo được dòng nước chảy tròn trong ao; diện tích ao nuôi 500 – 1500 m2

     b. Kết cấu ao nuôi: Bờ ao phải cao hơn mức nước cao nhất trong ao từ 0,3 - 0,5m. Hệ số mái bờ là 10 độ. Bờ ao đủ rộng (> 2m) để làm đường đi lại và lắp hệ thống điện, đặt động cơ của máy quạt nước và vận chuyển tôm khi thu hoạch. Bờ ao bằng đất có thể được gia cố bằng bê tông. Toàn bộ ao nuôi được lót bạt HDPE (độ dày 0,76 – 1,00mm). Rãnh thoát nước thải và bùn thải xi phong được thiết kế dọc theo bờ ao; chiều rộng khoảng 1,5m, chiều dài tùy theo chiều dài ao; có hệ thống ống dẫn xi phong chất thải ở giữa ao ra rãnh tự chảy hoặc bơm ra ao chứa bùn.

     c. Hệ thống sục khí:

     - Mỗi ao được bố trí 1 máy sục khí công suất 3,5 kW, với 150 - 200 cục sủi rải đều khắp ao. Các cục sủi được đặt song song, trước giàn quạt để oxy được phân bố đều khắp ao.

     - Quạt nước: Mỗi ao có 2 giàn quạt công suất 3,5 kW, 12 - 14 cánh/giàn. Vị trí đặt cách bờ ao khoảng 1,5m; các giàn quạt đặt so le để tạo thành dòng cho chất thải chỉ tích tụ ở vùng nhỏ tại rốn ao.

     4. Ao chứa bùn

     Ao chứa bùn được dùng để chứa bùn thải từ các ao nuôi xi phông ra. Chất thải được để lắng 2 - 5 ngày, sau khi bùn được chìm xuống, thì bơm nước cùng chất hữu cơ lơ lửng về ao lắng thô (ao thả cá rô phi) để cá rô phi xử lý chất hữu cơ lơ lửng.

     5. Ao lắng thô

     - Nước được lấy từ kênh vào ao lắng, được lọc qua hệ thống lọc ngầm ở giữa ao.

     - Cá rô phi được nuôi với mật độ 3-5 con/m2, cỡ cá không lớn hơn 50 g/con nhằm mục đích xử lý nước ao nuôi tôm có hiệu quả để tái sử dụng nguồn nước. Ao lắng thô là ao đất được khử trùng, diệt tạp và thả cá rô phi trước khi nuôi tôm.

     6. Ao xử lý nước

     Ao xử lý nước được dùng để xử lý các chất hữu cơ, mầm bệnh. Ao được thiết kế cho nước chảy theo đường zic zắc từ đầu đến cuối ao. Tại ao này, nước được xử lý bằng các loại hóa chất nhằm lắng tụ các chất hữu cơ và diệt mầm bệnh.

     7. Ao sẵn sàng

      Ao sẵn sàng được dùng để chứa nước đã sạch mầm bệnh và đã được điều chỉnh chất lượng trước khi cấp vào ao nuôi. Ao sẵn sàng nên đặt ở vị trí gần ao xử lý nước và các ao nuôi. Ao sẵn sàng được bố trí 1 hệ thống giàn quạt với 12 - 14 cánh, công suất 2,5 kW.

Quy trình vận hành và quản lý ao nuôi

     1. Chuẩn bị nước cho ao ương giống lớn và các ao nuôi

     - Nước được lấy từ kênh cấp chung qua bể lọc ngầm ở đáy ao vào ao lắng thô (ao nuôi cá rô phi) để lắng 1 đến 2 ngày. Sau đó được bơm sang ao xử lý nước hình zic zắc. Tại đường zic zắc đầu nguồn nước được xử lý bằng PAC (Poly Aluminum Chloride) với nồng độ 5 ppm và thuốc tím (KMnO4) với nồng độ 4 - 5 ppm. Tiếp đó nước được xử lý bằng TCCA với nồng độ 5ppm và Chlorine nồng độ 15 ppm. Tại đường zic zắc cuối nguồn nước được bơm từ ao xử lý sang ao sẵn sàng. Tại đây, nước được bổ sung khoáng chất, kiềm và điều chỉnh pH. Khi nước ở ao sẵn sàng đạt tiêu chuẩn cấp vào ao nuôi thì được cấp vào ao ương và các ao nuôi với độ sâu 1 - 1,2 m.

    - Kiểm tra hàng ngày đối với các chỉ tiêu: ô-xy hòa tan (DO), pH, độ mặn, độ trong, nhiệt độ; Kiểm tra 3 - 5 ngày/lần đối với các chỉ tiêu: độ kiềm, NH3, H2S bảo đảm giá trị của các thông số quy định ở các ao nuôi.

     2. Giai đoạn 1: Ương tôm giống bằng công nghệ biofloc

     a. Chọn giống và thả giống

     * Chọn giống và vận chuyển giống

     - Cỡ giống: PL12 trở lên, chiều dài 9 - 11mm

     - Tôm giống khỏe mạnh, đồng đều, nhanh nhẹn, không dị tật, dị hình.

     - Trước khi đóng túi để vận chuyển, tôm cần được thuần hóa độ mặn và pH về các giá trị tương đương với giá trị của ao ương giống lớn.

     * Thả giống

     - Trước khi thả giống kiểm tra lại các chỉ tiêu môi trường nước ao ương, bổ sung khoáng chất và chế phẩm sinh học. Tôm giống sau khi đưa về cơ sở nuôi được cân bằng nhiệt độ với ao ương, trong khoảng thời gian từ 15 – 20 phút, rồi mới thả tôm.

     - Thời điểm thả giống: Nên thả tôm giống vào buổi sáng (từ 6 - 8 giờ) hoặc vào chiều mát (từ 16 - 17 giờ);

     - Mật độ ương: 2.000 – 4.000 con/m2

     b. Gây floc ở ao ương giống lớn

     - Thành phần: Sử dụng 180 lít nước ngọt sạch, cám gạo: 2 kg, 2 kg thức ăn tôm số 0 (43% protein), 5 kg rỉ mật đường, 1 kg muối ăn và 500g chế phẩm sinh học có thành phần gồm Bacillus subtilis 108 CFU/kg, Bacillis licheniformis 108 CFU/kg, Bacillus megaterium 108 CFU/kg, Bacillus polymyxa 108 CFU/kg.

     - Sục khí liên tục 1 - 2 ngày, sau đó thì té đều xuống ao. Bổ sung liên tục trong 5 ngày đầu, bật quạt nước và sủi liên tục để tạo biofloc. Lượng rỉ mật đường và chế phẩm sinh học được điều chỉnh theo lượng thức ăn để đạt được tỷ lệ C/N là ≥ 12/1.

     c. Chăm sóc và quản lý ao nuôi

     - Trong tuần đầu tiên, tôm được cho ăn 8 lần/ngày bằng thức ăn số 0,1. Tuần sau đó, tôm được cho ăn bằng thức ăn số 1, hàm lượng đạm đạt ít nhất 43%, với tần suất 7 bữa ngày và giảm xuống còn 6 bữa/ngày ở tuần 3. Đồng thời gây biofloc để làm thức ăn cho tôm. Hàng ngày theo dõi và kiểm soát thức ăn bằng cách dùng vợt xúc sát đáy ở khoảng giữa các cục sủi, theo dõi hàm lượng floc, các dấu hiệu bất thường của tôm để có biện pháp xử lý phù hợp.

     - Thời gian ương: từ 25 – 30 ngày, đến khi tôm giống đạt cỡ 1.500 – 2.000 con/kg thì tiến hành chuyển sang ao nuôi giai đoạn 2.

     3. Giai đoạn 2: Nuôi tôm thịt bằng công nghệ biofloc và semibiofloc

     a. Thuần hóa tôm và vận chuyển tôm giống lớn từ ao nuôi giai đoạn 1 sang ao nuôi giai đoạn 2

     - Trước khi chuyển tôm giống ở ao ương giống lớn sang ao nuôi giai đoạn 2, tôm cần được làm quen dần với môi trường nước ao nuôi giai đoạn 2.

     - Cách làm như sau: Thay 50% nước ở ao ương chuyển sang ao nuôi và lấy nước từ ao nuôi chuyển về đầy ao ương, tiến hành thuần hóa trong 2 ngày trước thời điểm chuyển tôm giống từ ao ương giống lớn sang ao nuôi giai đoạn 2. Sau đó toàn bộ nước ở ao ương giống lớn được chuyển sang ao nuôi giai đoạn 2.

     - Mật độ nuôi: 350 – 800 con/m2

     - Cỡ tôm ương: 1.000 – 2.000 con/kg

     - Thời gian nuôi: 25 - 30 ngày

     b. Chăm sóc và quản lý ao nuôi

     - Gây biofloc ở ao nuôi giai đoạn 2: Trước khi thả tôm từ 5 - 7 ngày cần tiến hành gây floc, cách làm như sau:

     - Thành phần: Sử dụng 180 lít nước ngọt sạch đã qua khử trùng, cám gạo: 2 kg, 2 kg cám tôm số 0 (43% protein), 5 kg rỉ mật đường, 1 kg muối ăn và 500g chế phẩm sinh học có thành phần gồm Bacillus subtilis 108 CFU/kg, Bacillis licheniformis 10CFU/kg, Bacillus megaterium 108 CFU/kg, Bacillus polymyxa 108 CFU/kg. Sục khí liên tục 3-5 ngày, sau đó té đều xuống ao. Bổ sung liên tục trong 5 ngày đầu, bật quạt nước và sủi khí liên tục để tạo floc. Lượng rỉ mật đường và chế phẩm sinh học được điều chỉnh theo lượng thức ăn để đạt được tỷ lệ C/N là ≥ 12/1.

     - Tuần đầu của giai đoạn 2: tôm được cho ăn bằng thức ăn công nghiệp có hàm lượng protein cao (>42% protein), cỡ số 1. Đồng thời gây floc ở ao nuôi.

     - Từ tuần 2 của giai đoạn 2 đến hết giai đoạn 2: Tôm được cho ăn bằng thức ăn công nghiệp với các cỡ phù hợp với ngày tuổi của tôm được ghi trên nhãn sản phẩm của cơ sở sản xuất thức ăn.

     - Hàng ngày kiểm tra chất lượng nước, dấu hiệu bệnh do tác nhân sinh học của tôm để có biện pháp xử lý kịp thời; Căn cứ vào tuổi, kích thước, trọng lượng và sức ăn thực tế (kiểm tra thức ăn dư trên sàng ăn) để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp với từng giai đoạn của tôm.

     - Thay nước: hàng ngày bằng 12 - 15% lượng nước trong ao. Nước được xi phông về ao chứa bùn để sau đó chuyển sang ao nuôi cá rô phi để cá rô phi xử lý và tái sử dụng nước.

     4. Giai đoạn 3: Nuôi tôm thịt bằng công nghệ semibiofloc

     – Mật độ nuôi: 150 - 250 con/m²

     - Thời gian nuôi: 30 – 60 ngày

    - Khi tôm đạt cỡ 150 – 200 con/kg tiến hành chuyển toàn bộ tôm từ ao nuôi giai đoạn 2 sang ao nuôi giai đoạn 3.

     - Trước khi tiến hành chuyển tôm, cần bơm nước vào ao nuôi giai đoạn 3 bằng với mực nước ao nuôi giai đoạn 2, bật các hệ thống quạt nước và sục khí của 2 ao nuôi.

     - Gây biofloc ở ao nuôi: tương tự như ao nuôi giai đoạn 2

     - Cho ăn: Căn cứ vào ngày tuổi và sức ăn thực tế để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp với từng giai đoạn phát triển của tôm. Tôm được cho ăn 4 bữa/ngày, lượng thức ăn được điều chỉnh tùy thuộc vào khả năng ăn của tôm. Sử dụng sàng để kiểm tra lượng thức ăn thừa. Căn cứ vào lượng thức ăn còn lại trên sàng để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

     - Hàng ngày kiểm tra chất lượng nước, dấu hiệu bệnh của tôm để có biện pháp xử lý kịp thời.

    - Bổ sung vitamin và khoáng chất vào thức ăn: Trộn vào thức ăn tôm khoảng 1 -2 bữa/ngày vitamin C, B1, B12, v.v…và khoáng chất: Calcium sufate (CaSO4.2H2O), Potassium Chlorine (KCl), Postassium Magnesium Sulfate (K2SO4.2MgSO4), Potassium Sulfate (K2SO4) trộn vào thức ăn và cho ăn vào buổi sáng (8 - 9 giờ) hoặc chiều (15 - 16 giờ).

     - Thay nước: Hàng ngày thay 15 - 20% lượng nước trong ao. Nước được xi phông về ao chứa bùn để sau đó chuyển sang ao nuôi cá rô phi để cá rô phi xử lý và tái sử dụng nước.
Lợi ích mang lại
     - Lợi ích thấy rõ là giảm chi phí trong tháng nuôi đầu tiên, trong giai đoạn ương, tôm được nuôi ở ao ương có diện tích nhỏ nên dễ quản lý lượng thức ăn. Lượng thức ăn giai đoạn ương chỉ là 190 kg, thấp hơn nhiều so với so với quy trình nuôi tôm 1 giai đoạn trong 30 ngày đầu (khoảng 30%). Ngoài ra, nuôi tôm 3 giai đoạn giảm được rủi ro về tác động của môi trường, nhiệt độ.
     - Trong quá trình nuôi tôm sử dụng men vi sinh không dùng hóa chất và kháng sinh để quản lý các yếu tố môi trường, nên chất lượng tôm nuôi rất đảm bảo. Khi sang ra giai đoạn 3 thì mật độ thả thưa hơn, môi trường nuôi mới hơn, xử lý môi trường mình chủ động hơn nên hiệu quả nuôi cao hơn.

     - Mô hình nuôi tôm 03 giai đoạn tiết kiệm được chi phí góp phần giảm giá thành, môi trường trong từng giai đoạn nuôi ít biến động, ngăn ngừa dịch bệnh, hạn chế tối đa ô nhiễm môi trường, tạo ra sản phẩm đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm do quy trình nuôi không sử dụng kháng sinh hay hóa chất cấm, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng và xuất khẩu.

 

Các bài viết khác

BIỆN PHÁP XỬ LÝ PHÈN TRONG AO NUÔI TÔM

CÁCH XỬ LÝ TẢO ĐỘC TRONG AO NUÔI TÔM

CÁCH TĂNG ĐỘ KIỀM TRONG AO NUÔI TÔM

 

Zalo: 0707873579

Hotline070.787.3579

YoutubeTHỦY SẢN NAM DƯƠNG

FanpageCông Ty Nam Dương

Chia sẻ:

Bình luận

Bài viết liên quan

zalo
0707873579